Thứ Sáu, 26 tháng 7, 2013

Trở về Ngã ba Đồng Lộc

Hành hương về địa chỉ đỏ

Nhắc tới “Ngã ba Đồng Lộc” ai cũng bổi hổi xúc động và kiêu hãnh. Bao nhiêu người đã ngã xuống và những nhân chứng lịch sử vẫn còn đây. Còn đây Anh hùng La Thị Tám, người đứng trên đỉnh núi Mòi “đếm từng loạt bom rơi”. Còn đây dũng sĩ lái máy gạt Uông Xuân Lý. Còn đây những cựu thanh niên xung phong, những công nhân liên lạc tải san lấp hố bom, vác đá vá đường. Những đội viên pháo thủ, những lái xe “ngẩng đầu cao trong sáng tuyệt vời”. Với khát vọng giang san độc lập, hòa bình, họ xem cái chết nhẹ như hồng mao.

Về với Đồng Lộc, vớ cùng ngước lên Tượng đài thắng lợi để soi lại mình, thức dậy những kỷ niệm còn tươi rói, nụ cười đồng đội, chân dung đồng đội. Những ngày này, khu mộ 10 cô gái thanh niên xung phong tuổi đôi mươi luôn có những vòng hoa trắng, những nén hương khấn nguyện. Bao lăm “cuộc chia ly màu đỏ” giờ trở lại Đồng Lộc ai chẳng có một nỗi niềm tây. Nhiều người vẫn nhắc tới Vương Đình Nhỏ, Nguyễn Tri Ân, Nguyễn Tiến Tuẩn... Dòng người về Đồng Lộc ngày mỗi dài thêm. Có những người đã một thời trận mạc khi trở về với miền ký ức, họ chỉnh trang lại binh phục cũ, gắn trên ngực huân, huy chương. Tuổi trẻ cũng trong y phục mầu xanh, vành mũ tai bèo. Họ hát lại bài ca một thời đã hát, băng qua những ngọn đồi, con suối một thời đã qua.

Sáng nay, chúng tôi đặt chân tới Khu di tích Ngã ba Đồng Lộc, đã gặp ngay trước cổng hai chiếc xe ô-tô một thời nhiều lần qua ngã ba này chở hàng ra chiến trận, toàn xe phủ kín lá ngụy trang. Kỷ vật lẻ này do một đơn vị quân nhân đã dày công gìn giữ và gửi tặng. Người tài xế qua “cửa tử” Ngã ba Đồng Lộc năm xưa nay tuổi đã ngoài bảy mươi. Ông quên sao được Ngã ba Đồng Lộc, một con đường chiến lược chuyển vận quan trọng bậc nhất mà kẻ địch tìm mọi cách bao vây và chốt chặn. Để hòng làm tắc nghẽn mạch máu này, không lực Hoa Kỳ đã dùng đủ mọi thứ bom, huy động hàng loạt phi cơ tối tân nhất để biến Đồng Lộc thành “túi đựng bom”. Người cựu chiến binh đưa bàn tay thô ráp choàng vai tôi nhắc tới sự khốc liệt trong chiến tranh, ông bảo: “Chú tính thử xem bình quân mỗi tháng chúng ném bom tới 28 ngày, có ngày phản lực Mỹ nhào tới 103 lần và thả 800 quả bom thì đá cũng bị xay thành bột chứ nói chi khoai, lúa ở trên đồng. Chỉ riêng trong bảy tháng năm 1968, chúng đã ném xuống Đồng Lộc gần 50 nghìn quả bom”. Quang vinh nào trong chiến trường mà không phải đánh đổi bằng xương máu. Trung đoàn 210 pháo cao xạ liên tục 148 hôm mai bám trụ ở Ngã ba Đồng Lộc, quần nhau với lũ giặc trời.

Chiến tranh đã qua, những khẩu pháo của các anh giờ nằm trong nhà bảo tồn, nhưng đồng đội và người dân cả nước mãi ghi ơn 122 người con kiêu dũng ngã xuống cho mảnh đất này bình yên.

Đồng Lộc xanh lên từ đất lửa

Về địa chỉ Anh hùng xã Đồng Lộc, ai ai cũng thấy lòng mình như dịu lại khi nhìn ngọn đồi thoai thoải đã phủ kín mầu xanh của cây trái. Những dòng nước ngọt theo mương về ruộng, bỏ lại đằng sau lũy tre làng một quá vãng nghèo đói, bỏ lại đằng sau bóng vía những người dân với đôi mắt lo lắng khi gió phơn tây nam hầm hập quạt lửa. Đôi mắt trũng sâu với trăm điều toan lo đấu tranh với thiên tai. Thế là sau năm khởi đầu của thế kỷ 21, xã Đồng Lộc đã vững vàng thế mới trong một tư duy sáng tạo, một niềm tin mãnh liệt vào chính sách, đường lối đổi mới của Đảng.

Con đường bùn lầy nước đọng lỗ chỗ dấu chân trâu ngày xưa từ các lối xóm, nay đã được trải thảm nhựa. Đồng Lộc đã có một cuộc “cách mạng” về giao thông nông thôn và thủy lợi. Tôi hỏi đồng chí chủ toạ UBND xã Võ Đức Lợi: “Khôi phục lại sau chiến tranh, đi lên từ hai bàn tay trắng, chắc dân nặng nhọc lắm, phải không anh?”. Anh Lợi nói: “Tháng 4-1975, sau khi nước nhà hợp nhất, những người dân xã tôi mới từ vùng quê sơ tán trở về sinh sống. Đây là thời kỳ mọi người đều chung nỗi khổ như nhau. Tiền không, nhà cửa không, trâu bò không. Các gia đình dựng lều tranh ở tạm, trong lúc này cả nước thiếu lương thực nghiêm trọng. Chi viện cho Đồng Lộc không đủ, nhiều người phải lầm lũi vào rừng tìm củ mài. Lúc nớ có được sắn, khoai, môn ăn trừ bữa cũng đã hạnh phúc lắm rồi. Đau thương và mất mát nhiều thật, nhưng lòng nhân nghĩa, tình xóm làng thì giàu lên gấp bội. Vì lẽ đó mà họ gồng mình trước những thử thách mới”.

Từ năm 1976 đến 1979, xã Đồng Lộc mở đầu “mũi đột phá” quy hoạch lại đất đai, làng xóm, cải tạo đồng ruộng. Việc “phẫu thuật” và “chỉnh hình” cho đất, người dân phải đổ mồ hôi tới ba năm ròng rã. Xe húc, xe ủi và đội công binh lại nối dò xét, phá dọn bom, mìn còn âm ỉ trong lòng đất. Cuộc tiến công vào “xóa đói, giảm nghèo” mọi người hăm hở xắn cao tay áo: Đất chua mặn tìm cách tẩy trừ chua mặn. Đất bạc màu thiếu nước cấy lúa phải tìm ra nước. Chính những lúc cam go này, lãnh đạo huyện Can Lộc đã có quyết định đúng đắn, dồn sức xây dựng công trình thủy lợi Cửa Thờ - Trại Tiểu với trữ lượng 19 triệu m3, đủ cung cấp nước tưới cho hơn 190 ha lúa ở xã Đồng Lộc và hàng trăm ha lúa của bốn xã vùng phụ cận. Năm 1997, xã Đồng Lộc là một trong những địa phương trước nhất của huyện Can Lộc từ sinh sản hai vụ lúa chuyển sang ba vụ lúa. Xóa đi những tầm nhìn hạn hẹp trong làm ăn manh mún. Người nông dân Đồng Lộc đã có những cung cách làm ăn mới trên thửa ruộng khoán của mình. Dạn dĩ đổi thay ngay những bộ giống lúa năng suất thấp, bằng những giống mới có năng suất cao. Mạnh dạn vay vốn nhà băng đầu tư thâm canh. Không ai có thể ngờ rằng vùng đất đồng khô cỏ cháy, hậu quả nặng nề chiến tranh ở xã Đồng Lộc đã đạt bình quân 55 tạ/ha. Không chỉ có lúa từ núi đồi, nương bãi, ở đâu đất cũng được bàn tay siêng năng, cần mẫn đánh thức dậy. Nhà trồng thêm ngô, người trồng thêm lạc. Mùa gặt thóc dát đầy sân phơi, ngô, lạc, đậu, vừng... Ăm ắp chum vại.

Có được nguồn lương thực ổn định, nhiều gia đình không chỉ ăn no, mặc ấm mà còn tự tìm cho mình một con đường làm giàu chính đáng bằng chăn nuôi, bằng kinh tế nông trại, bằng mở rộng dịch vụ kinh dinh tổng hợp. Tôi gặp anh Nguyễn Đình Ái (xóm 4, Đồng Lộc) một người Mạnh dạn làm ăn kinh dinh ba ha keo và khuynh diệp, cùng với chăn nuôi hàng trăm con lợn, gà, hàng chục con bò, mỗi năm thu nhập hơn 200 triệu đồng. Còn anh Nguyễn Văn Đức (xóm Thương Liên), tận dụng hình khe thế núi để thiết lập trang trại trồng 10 ha keo tai tượng và chăn nuôi tổng hợp, thu nhập mỗi năm gần 500 triệu đồng.

45 năm đã qua, mọi đau thương đã lùi vào quá cố. Chính quyền và người dân Đồng Lộc bữa nay đang chung sức, chung lòng dựng xây quê hương càng ngày càng ấm no, giàu đẹp trên chính mảnh đất ghi dấu chiến công anh hùng năm xưa.

PHAN THẾ CẢI


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét